Tại sao nói ‘lòng Nhân là yêu thương người khác, chứ không phải yêu thương chính mình’? – Cảm ngộ Phong Thần diễn nghĩa (3)

Tại sao nói ‘lòng Nhân là yêu thương người khác, chứ không phải yêu thương chính mình’? – Cảm ngộ Phong Thần diễn nghĩa (3)

Đôi lời chia sẻ: Đây là loạt bài dài kỳ mà chúng tôi chia sẻ góc nhìn về câu chuyện Phong Thần diễn nghĩa, hy vọng có thể mạn đàm cùng quý độc giả, đồng thời nhận được những góp ý quý báu.

Trong Phong Thần diễn nghĩa có một nhân vật chỉ xuất hiện đến hồi 29 (trong tổng số 100 hồi) nhưng đã để lại một tấm gương sáng ngời về lòng Nhân Đức, đó là Chu Văn Vương – Cơ Xương. Khi so sánh Văn Vương và Trụ Vương thấy được rõ ràng rằng: Lòng Nhân không phải là yêu thương người khác, chứ không phải yêu thương chính mình…

‘Nhân’ chính là yêu thương người khác

Chữ Nhân (仁) trong Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín gồm bộ Nhân đứng (亻) và chữ Nhị (二). Trong cuốn ‘Tìm về cội nguồn chữ Hán’ của Lý Lạc Nghị nói rằng: Nhân chính là ‘thân ái với người’. 

Chữ Nhân (仁) trong cuốn ‘Tìm về cội nguồn chữ Hán’ của Lý Lạc Nghị.

Trong ‘Luận ngữ’, khi học trò hỏi về Nhân (仁), Khổng Tử cho mỗi người một đáp án khác nhau.

Có học trò tên Phàn Trì hỏi về Nhân, Khổng Tử đáp: ‘Một người chịu khổ trước, hưởng sướng sau gọi là Nhân’. Phàn Trì chưa hiểu lắm, một thời gian sau lại hỏi lại, Khổng Tử mới trả lời, Nhân là ‘Ái nhân’ (愛人: yêu người).

Học trò Trọng Cung hỏi Khổng Tử thế nào là Nhân, Phu Tử đáp: ‘Điều mình không muốn, chớ làm cho người’ (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân).

Có học trò là Tăng Sâm hỏi về Nhân, Khổng Tử đáp: ‘Đạo của ta quán xuyến hết trong đó’. Tăng Sâm nói: ‘Con biết rồi’. Tăng Sâm là người có ngộ tính rất cao, Khổng Tử chỉ nói một câu ông liền minh bạch, Khổng Tử nói một thì Tăng Sâm đã hiểu mười, cho nên sau này có người hỏi Tăng Sâm, ông mới đáp rằng: ‘Đạo của Phu Tử, chỉ là Trung – Thứ mà thôi’.

Khổng Tử đưa ra nhiều giải thích về Nhân như ‘Ái nhân’, ‘Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân’… Vậy rốt cuộc Nhân là gì?

Trong cuốn ‘Trung Hoa văn minh sử’ quyển thượng, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã làm rõ thêm rằng:

‘Ái nhân’ của Khổng Tử là ‘bác ái’ (博愛: yêu rộng khắp). Nó bao gồm hai phương diện. Một là ‘từ bụng ta suy ra bụng người’ (Thôi kỷ cập nhân – 推己及人), nghĩa là chúng ta cảm thấy tốt thì cũng mong muốn người khác đạt được điều tốt. 

Khổng Tử nói: ‘Điều mình muốn lập thì cũng nên lập cho người, điều mình muốn đạt cũng nên cho người khác đạt được’ (kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân). Đây là ‘Trung’ (忠: tận sức vì người). 

Một mặt khác của ‘thôi kỷ cập nhân’ là ‘điều mình không muốn, chớ làm cho người’. Đây là Thứ (恕: khoan dung tha thứ). 

Do đó Tăng Sâm mới nói ‘Đạo của Phu Tử, chỉ là Trung – Thứ mà thôi’.

Tranh vẽ Khổng Tử (ảnh Wikipedia).

Tựu trung lại, Nhân có nghĩa là yêu thương người khác, chứ không chỉ yêu thương bản thân. Bởi vì yêu thương bản thân là cái ‘yêu thương nhỏ hẹp’ chứ không phải ‘bác ái’, cho nên với tấm lòng nhỏ hẹp, người ấy có thể làm những việc ‘lợi mình’ nhưng ‘hại người’.

Sự khác nhau giữa Trụ Vương vô đạo và Văn Vương nhân đức

Khi so sánh Trụ Vương và Chu Văn Vương, chúng ta càng thấy rõ hơn ý nghĩa thật sự của Nhân. 

Trụ Vương có yêu thương bản thân mình không? Có. Trụ Vương có yêu thương Đát Kỷ không? Cũng có. Nhưng đó là cái yêu thương nhỏ hẹp, thậm chí vì yêu thương nhỏ hẹp mà làm hại người khác, khiến ‘Thiên nộ dân oán’ (Trời phẫn nộ, dân oán thán). 

Trụ Vương vì yêu thương bản thân nên xây cất Lộc đài tốn tiền hao của, tàn hại sức dân; vì để thoả mãn thú vui hưởng thụ mà bày Tửu Trì, Nhục Lâm; ghê tởm hơn cả là vì để thoả mãn trí tò mò mà chặt chân lương dân để xem tuỷ, mổ bụng coi thai v.v. Những người dân bị chết khi chặt chân thì vứt ra ngoài đồng vắng. Trụ Vương quả thật coi bách tính lương dân như cỏ rác. 

Trụ Vương cũng có yêu thương, nhưng ông ấy yêu thương bản thân chứ không phải yêu thương người khác. Ông ta thực thi nhân ái trong phạm vi vô cùng nhỏ hẹp, cho nên đó không phải là yêu thương, cũng không phải Nhân Đức. 

Trong khi đó, chỉ xuất hiện trong 29/100 hồi, nhưng Chu Văn Vương – Cơ Xương đã để lại một tấm gương sáng ngời về Nhân Đức. 

Ông thực thi lòng yêu thương vô cùng xa, chứ không phải chỉ nghĩ cho riêng mình. Ông trải rộng ân đức, thương dân như con, đạo đức như vua Nghiêu Thuấn, khiến đất Tây Kỳ ‘dân không nhặt của rơi, tối ngủ không cần khoá cửa’. Thật là một cảnh thái bình thịnh trị.

Khi Chu Văn Vương bị đổ oan và bị cầm chân trong thành Dũ Lý trong 7 năm. Ở nơi ấy ông không oán không giận, vẫn trải ân đức cho bá tánh, người dân trong thành sinh hoạt có nề nếp. Lúc rảnh rỗi, Chu Văn Vương còn chế định Hậu thiên Bát quái thay cho Tiên thiên Bát quái của Phục Hy. 

Sau 7 năm bị cầm chân, Tây Bá Hầu – Cơ Xương trở về đất Tây Kỳ. Ông muốn cất ‘một linh đài ở hướng nam gần thành tây, để coi sao và xem bói’ nhưng lại sợ nhọc sức dân. 

Ở đây thấy rằng dù Chu Văn Vương có quyền lực nhất xứ Tây Kỳ, nhưng cũng không dám tuỳ tiện xây linh đài vì sợ nhọc sức dân, đây là một điều thật sự hiếm thấy ở một lãnh đạo. Cuối cùng Chu Văn Vương treo bảng, ai giúp thì vua trả tiền công, kết quả người dân tự nguyện xây linh đài mà không lấy tiền công.

Có lần khi đào một cái ao trước linh đài, dân chúng gặp những bộ xương khô trắng hếu. Văn Vương mới sai người tẩm liệm chôn cất hẳn hoi. Đây là một chi tiết khiến nhiều người cảm động, ngay cả bộ xương khô còn trân trọng như vậy thì đối với người sống còn tôn trọng hơn thế nữa. 

Một bên Trụ Vương coi con dân như cỏ rác, chặt chân xem tuỷ xong thì vứt xác ngoài đồng vắng, một bên là Văn Vương coi dân như con, tẩm liệm những bộ xương khô vô chủ; ta thấy được sự tương phản về cách hành xử của hai vị quân vương: Trụ Vương vô đạo chỉ yêu thương bản thân hoặc một nhóm nhỏ, còn Văn Vương là yêu thương rộng khắp, cho nên đây mới là Nhân Đức thực sự.

Vì sao ai cũng nên thực hành nhân đức?

Tại sao những vị minh quân như Chu Văn Vương đều yêu dân như con, mà loại tình cảm này là tự nhiên chứ không phải ép buộc. Trên thực tế triều Chu là thời kỳ mà tư tưởng Nho gia rất phát triển. 

Chu Công phò tá Vũ Vương phạt Trụ, sau khi nhà Chu thành lập, thì Chu Công chính là người thiết lập Chu Lễ (Lễ tiết/Lễ nghi nhà Chu), còn vị quan phụ trách Lễ nhà Chu gọi là Nho quan. Đến thời Xuân Thu ‘Lễ băng Nhạc hoại’, Khổng Tử đã làm một việc là khôi phục Chu Lễ. Từ những điều trên thấy rằng, tư tưởng Nho gia đã rất phát triển từ thời nhà Chu, tức trước cả thời Xuân Thu của Khổng Tử.

Nho gia rất chú trọng luân lý gia đình, họ giảng rằng: ‘Phụ từ, tử hiếu’ (cha hiền từ, con hiếu thuận). Từ luân lý gia đình mà khuếch đại ra toàn xã hội trở thành ‘Quân nhân, thần trung’ (quân vương nhân đức, bề tôi trung thành). Vì từ luân lý gia đình khuếch đại ra xã hội nên việc vua có lòng nhân, thương dân như con là điều rất tự nhiên, cũng giống như cha thương con vậy. Vua vừa có lòng Nhân (仁) vừa có lòng Từ (慈: hiền từ), nên chúng ta mới hay nghe là vua ‘nhân từ’. 

Do đó bản thân những tư tưởng của Nho gia rất gần gũi, tự nhiên, dễ tiếp nhận; chứ không phải mang nghĩa ‘khúm núm’, ‘phục tùng’, ‘nô dịch’ mà chúng ta thường hay hiểu lầm. 

Thời nay nhiều nước không còn vua, nhưng đạo giữa cấp trên – cấp dưới cũng là từ ‘Phụ từ, tử hiếu’ mà khuếch đại ra. Nghĩa là cấp trên cũng phải yêu thương cấp dưới, còn cấp dưới phải kính trọng cấp trên, quan hệ giữa họ cũng ấm áp giống như tình cảm gia đình vậy.

Chúng ta biết rằng Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của tư tưởng Nho gia. Trong những năm của thế kỷ trước, các công ty Nhật Bản thường không sa thải nhân viên.

Matsushita Konosuke là doanh nhân người Nhật sáng lập ra tập đoàn Matsushita – nổi tiếng với các thương hiệu như Panasonic, Sanyo v.v. Một trong những cách thức giúp ông vượt qua khủng hoảng đó là: không sa thải nhân viên.

Ông Matsushita Konosuke (ảnh Wikipedia).

Năm 1929 đã xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới, Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng, khi ấy vật giá tăng lên hàng loạt và lượng hàng hoá bán ra cũng giảm đột ngột, hàng loạt công ty phá sản. Doanh thu của công ty điện Matsushita cũng giảm mạnh, trong nhà kho tồn đọng cả núi hàng không tiêu thụ được.

Trong tình cảnh ấy, thật không may là ông Konosuke lại đang ốm, những cán bộ chủ chốt đã đem kế sách ‘cứu vớt’ công ty đưa cho ông, trong đó có điều là: giảm một nửa nhân viên. Sau khi cân nhắc, ông Konosuke quyết định: giảm một nửa sản xuất nhưng sẽ không sa thải nhân viên, lương nhân viên được trả đủ theo ngày làm việc. Ông khuyến khích nhân viên đi làm nửa ngày, nửa ngày còn lại dựa trên sự tự nguyện, lựa chọn giúp công ty tiêu thụ hàng tồn. Ông nói rằng:

Trên thế giới này, có ngày Mặt Trời chiếu sáng rực rỡ, nhưng cũng có ngày âm u. Nếu mỗi khi như vậy cứ tuyển dụng rồi sa thải, thì cuối cùng kết quả sẽ như thế nào? Dù chỉ một người thôi cũng không được đuổi. Tiền công cho nửa ngày làm việc hay nửa ngày sản xuất, dù là một phần trăm cũng không được cắt.

Ông tâm niệm: Mở công ty là để cống hiến cho xã hội, mang lại hạnh phúc cho nhân viên. Như vậy theo ông Konosuke, công ty chính là ‘nhà’ của nhân viên.

Những điều này đã khiến nhân viên cảm động. Nhiều nhân viên đã không quản nắng mưa, thậm chí hy sinh ngày nghỉ của mình để nỗ lực làm việc. Kết quả vào tháng 2 năm sau, núi hàng tồn đọng đã ‘biến mất’, thậm chí từ đó công ty chuyển từ chế độ làm nửa ngày sang làm cả ngày mà vẫn không kịp với tốc độ hàng bán ra.

Câu chuyện này được ghi lại trong cuốn ‘Mạn đàm nhân sinh’ của ông Matsushita Konosuke.

‘Sếp’ hết lòng vì nhân viên, coi việc mở công ty là để mang lại hạnh phúc cho nhân viên; còn nhân viên lại tận tâm làm tốt chức trách của mình. Chúng ta cảm nhận được sự ấm áp giữa cấp trên và cấp dưới giống như trong một gia đình. Vì coi nhau như gia đình, nên ông Konosuke đã không sa thải nhân viên, cuối cùng cả ‘đại gia đình’ đã vượt qua khủng hoảng, thật đúng là: “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào” (Trích ‘Đại cáo bình Ngô’ của Nguyễn Trãi).

Khi chúng ta hiểu đạo lý này sẽ giải thích được: vì sao các công ty Nhật Bản thế kỷ trước thường không sa thải nhân viên.

Trên thực tế, lòng Nhân tức yêu thương người khác, không phải là điều mà quân vương hoặc lãnh đạo mới học. Bởi vì nếu chúng ta có con thì cũng phải ‘từ’ (hiền từ) với con, hoặc sau này mở công ty/doanh nghiệp cũng phải có lòng ‘nhân’, cho nên lòng Nhân là điều ai ai cũng cần học. Và đây cũng là phong thái mà một xã hội chính thường nên có…

Chu Thuần

Có thể bạn quan tâm:

Chu Thuần

Chu Thuần

Chu Thuần là người yêu văn hoá và thích suy nghĩ, Chu Thuần muốn truyền tải những giá trị truyền thống và góc nhìn của những chuyên gia đến quý độc giả.

Leave a Reply

Your email address will not be published.