Đệ tử quy – Bài 9: Ăn uống, đi đứng

Đệ tử quy – Bài 9: Ăn uống, đi đứng

Nguyên văn:

或(1)飲食(2), 或坐走; 長者先, 幼者後。
長呼(3)人, 即(4)代(5)叫; 人不在, 己即到。
稱(6)尊長, 勿呼名; 對尊長, 勿顯能(7)。

Bính âm:

或(huò) 飲(yǐn) 食(shí), 或(huò) 坐(zuò) 走(zǒu);
長(zhǎng) 者(zhě) 先(xiān), 幼(yòu) 者(zhě) 後(hòu)。
長(zhǎng) 呼(hū) 人(rén), 即(jí) 代(dài) 叫(jiào);
人(rén) 不(bú) 在(zài), 己(jǐ) 即(jí) 到(dào)。
稱(chēng) 尊(zūn) 長(zhǎng), 勿(wù) 呼(hū) 名(míng);
對(duì) 尊(zūn) 長(zhǎng), 勿(wù) 顯(xiàn) 能(néng)。

Chú âm:

或(ㄏㄨㄛˋ) 飲(ㄧㄣˇ) 食(ㄕˊ), 或(ㄏㄨㄛˋ) 坐(ㄗㄨㄛˋ) 走(ㄗㄡˇ);
長(ㄓㄤˇ) 者(ㄓㄜˇ) 先(ㄒㄧㄢ), 幼(ㄧㄡˋ) 者(ㄓㄜˇ) 後(ㄏㄡˋ)。
長(ㄓㄤˇ) 呼(ㄏㄨ) 人(ㄖㄣˊ), 即(ㄐㄧˊ) 代(ㄉㄞˋ) 叫(ㄐㄧㄠˋ);
人(ㄖㄣˊ) 不(ㄅㄨˊ) 在(ㄗㄞˋ), 己(ㄐㄧˇ) 即(ㄐㄧˊ) 到(ㄉㄠˋ)。
稱(ㄔㄥ) 尊(ㄗㄨㄣ) 長(ㄓㄤˇ), 勿(ㄨˋ) 呼(ㄏㄨ) 名(ㄇㄧㄥˊ);
對(ㄉㄨㄟˋ) 尊(ㄗㄨㄣ) 長(ㄓㄤˇ), 勿(ㄨˋ) 顯(ㄒㄧㄢˇ) 能(ㄋㄥˊ)。

Âm Hán Việt:

Hoặc ẩm thực, hoặc tọa tẩu; trưởng giả tiên, ấu giả hậu.
Trưởng hô nhân, tức đại khiếu; nhân bất tại, kỷ tức đáo.
Xưng tôn trưởng, vật hô danh; đối tôn trưởng, vật hiển năng.

Lời dịch:

Hoặc ăn uống, hoặc đi đứng; người lớn trước, người nhỏ sau.
Người lớn gọi, liền gọi thay; người vắng mặt, mình liền thế.
Thưa người lớn, chớ gọi tên; với người lớn, chớ khoe tài.

Từ vựng:

(1) hoặc (或): hoặc là.
(2) trưởng (長): trưởng bối, bề trên, bậc đàn anh, bậc cha chú, người lớn tuổi hơn, vai vế cao hơn.
(3) hô (呼): gọi.
(4) tức (即): lập tức, tức khắc, tức thì, liền.
(5) đại (代): đại diện, thay mặt, thay thế.
(6) xưng (稱): gọi, xưng hô, nói chuyện, thưa chuyện, hầu chuyện.
(7) hiển năng (顯能): hiển hiện tài năng, lộ tài, khoe tài.

Lời giải thích:

Bất kể ăn cơm uống nước, hoặc đi đứng nằm ngồi, đều ưu tiên cho người lớn trước, người nhỏ sau.

Người lớn gọi ai đó, phải lập tức thay người lớn gọi to; nếu người ấy không có mặt ở đó thì mình liền thay thế, đến trước mặt người lớn để giúp đỡ.

Xưng hô, nói chuyện, thưa chuyện với người lớn không được gọi tên người lớn; đối với người lớn cần phải giữ khiêm tốn, không được khoe tài năng của mình. 

Câu chuyện tham khảo:

Vương Thị tự mình ăn bã cám

Vương Thị là vợ của Hạ Thành Minh thời nhà Minh, là người phụ nữ làm nông ở Vô Tích tỉnh Giang Tô, gia cảnh nghèo khổ, lại gặp năm mất mùa, chồng ra ngoài làm việc, Vương Thị ngày đêm dệt vải không ngơi tay, gắng sức chuẩn bị bữa ăn cho cha mẹ chồng, bản thân thì ăn bã cám (1) và rau dại để no bụng. 

Mẹ chồng một hôm vô tình đi vào bếp, trông thấy con dâu ăn mấy thứ đó, nhịn không được mà rơi nước mắt. Sau đó Vương Thị hưởng thọ hơn tám mươi tuổi, không có ốm đau, an nhiên mà mất. Người nhà trong mộng thấy có một đội múa cờ tấu nhạc nghênh đón hiếu phụ (2) ra đi. Có vị cống sinh (3) Đồng Lý mỗi lần qua cửa nhà Vương Thị, nhất định ở ngoài cửa cúi chào ba lần, biểu thị cung kính.

Chú thích:
(1) Bã cám: bã rượu, vỏ lúa, loại thức ăn thô, xấu, thứ phẩm, thường dành cho gia súc ăn.
(2) Hiếu phụ: người phụ nữ hiếu thảo, người vợ hiếu thảo.
(3) Cống sinh: thời đại khoa cử, thường tuyển chọn ra một người học hành ưu tú để tiến cử lên Thái học ở Bắc Kinh để học tập (Quốc Tử Giám, Quốc học, thời nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh là nơi học cao nhất). Cống: tiến cử nhân tài cho vua.

Link tiếng Trung.
Link tiếng Việt bên Chánh Kiến.

Có thể bạn quan tâm:

Chu Thuần

Chu Thuần

Chu Thuần là người yêu văn hoá và thích suy nghĩ, Chu Thuần muốn truyền tải những giá trị truyền thống và góc nhìn của những chuyên gia đến quý độc giả.

Leave a Reply

Your email address will not be published.