Đệ tử quy – Bài 3: Đông ấm, hạ mát

Đệ tử quy – Bài 3: Đông ấm, hạ mát

Nguyên văn:

冬則溫,夏則凊(1) ; 晨則省(2), 昏(3)則定(4)。
出必(5)告,返(6)必面(7); 居(8)有常(9), 業(10)毋(11)變。

Bính âm:

冬(dōng) 則(zé) 溫(wēn), 夏(xià) 則(zé) 凊(qìng) ;
晨(chén) 則(zé) 省(xǐng), 昏(hūn) 則(zé) 定(dìng)。
出(chū) 必(bì) 告(gào), 返(fǎn) 必(bì) 面(miàn);
居(jū) 有(yǒu) 常(cháng), 業(yè) 毋(wú) 變(biàn)。

Chú âm:

冬(ㄉㄨㄥ) 則(ㄗㄜˊ) 溫(ㄨㄣ), 夏(ㄒㄧㄚˋ) 則(ㄗㄜˊ) 凊(ㄐㄧㄥˋ);
晨(ㄔㄣˊ) 則(ㄗㄜˊ) 省(ㄒㄧㄥˇ),昏(ㄏㄨㄣ) 則(ㄗㄜˊ) 定(ㄉㄧㄥˋ)。
出(ㄔㄨ) 必(ㄅㄧˋ) 告(ㄍㄠˋ), 返(ㄈㄢˇ) 必(ㄅㄧˋ) 面(ㄇㄧㄢˋ);
居(ㄐㄩ) 有(ㄧㄡˇ) 常(ㄔㄤˊ), 業(ㄧㄝˋ) 毋(ㄨˊ) 變(ㄅㄧㄢˋ)。

Âm Hán Việt:

Đông tắc ôn, hạ tắc sảnh; Thần tắc tỉnh, hôn tắc định.
Xuất tất cáo, phản tất diện; cư hữu thường, nghiệp vô biến.

Lời dịch:

Đông phải ấm, hạ phải mát. Sáng phải thăm, tối phải định.
Đi phải thưa, về phải trình; nếp ổn định, luật không đổi.

Từ vựng:

(1) sảnh (凊): mát, lạnh.
(2) tỉnh (省): hỏi thăm sức khỏe, vấn an, ân cần thăm hỏi.
(3) hôn (昏): hoàng hôn, xế chiều, tối.
(4) định (定): an định, ổn định, ở đây chỉ việc thu xếp trải giường, lo chỗ ngủ cho cha mẹ.
(5) tất (必): nhất định.
(6) phản (返): trở về.
(7) diện (面): diện kiến, gặp mặt, trình diện.
(8) cư (居): cư trú, ở, sống, ở đây chỉ lễ tiết, nề nếp trong sinh hoạt thường ngày.
(9) thường (常): cố định không thay đổi.
(10) nghiệp (業): thứ tự, trình tự, trật tự, quy luật.
(11) vô (毋): không, không được, cũng giống như “vô” 无.

Lời giải thích:

Mùa đông cần phải sưởi ấm chiếu cho cha mẹ, mùa hè cần phải làm mát chiếu; sáng sớm phải hỏi thăm sức khỏe cha mẹ, ban đêm phải chuẩn bị chăn giường thật tốt giúp cha mẹ ngủ ngon.

Ra ngoài phải bẩm báo cho cha mẹ biết, về nhà phải trình diện cho cha mẹ hay; sinh hoạt hàng ngày phải có quy luật, trật tự thường ngày không được tùy ý thay đổi.

Câu chuyện tham khảo:

Hoàng Hương thiên chẩm ôn khâm (1) (Hoàng Hương quạt gối hâm chăn)

Hoàng Hương là người Giang Hạ thời Đông Hán. Lúc 9 tuổi mẹ mất, nhớ mẹ rất sâu sắc, dân làng đều nói cậu là một hiếu tử (người con có hiếu).

Cậu bé Hoàng Hương quạt mát giường cho cha đi ngủ vào mùa hè. Ảnh chụp từ video Tam tự kinh của Chánh Kiến.

Hoàng Hương làm việc cần mẫn, không sợ khổ, toàn tâm toàn ý phụng dưỡng cha mình. Ngày hạ nóng bức, cậu dùng quạt để thổi mát chiếu gối cho cha. Ngày đông rét lạnh, cậu dùng thân thể làm ấm chăn đệm cho cha. Khi Hoàng Hương 12 tuổi, Thái Thú Lưu Hộ nghe nói về hiếu hạnh của cậu mà hẹn gặp, tặng cho cậu biển ngạch (2) đề “Môn hạ hiếu tử” (Học trò hiếu thảo), biểu dương khả năng vượt khó đáng quý của cậu.

Hoàng Hương thuở thiếu thời đã đọc thuộc lòng kinh điển, học vấn phong phú, văn chương của cậu nổi tiếng kinh thành, mọi người ca ngợi cậu là “Thiên hạ vô song, Giang Hạ hoàng đồng.” (Thiên hạ có một không hai, cậu bé vàng đất Giang Hạ) (Trích từ “Nhị Thập Tứ Hiếu”)

Chú thích:
(1): Thiên 搧 (shān, ㄕㄢ), vẫy (quạt) cây quạt.
Chẩm 枕 (zhěn, ㄓㄣˇ), cái gối.
Ôn 溫 (wēn, ㄨㄣ), ấm, hâm nóng.
Khâm 衾 (qīn, ㄑㄧㄣ), cái chăn lớn.
(2): Biển ngạch: tấm biển ngang, bức hoành viết chữ lớn, treo trên cao ở đình vườn, đại sảnh, tấm gỗ treo phía trên phòng đọc sách.
Link tiếng Trung.
Link tiếng Việt bên Chánh Kiến.

Có thể bạn quan tâm:

Chu Thuần

Chu Thuần

Chu Thuần là người yêu văn hoá và thích suy nghĩ, Chu Thuần muốn truyền tải những giá trị truyền thống và góc nhìn của những chuyên gia đến quý độc giả.

Leave a Reply

Your email address will not be published.