Đệ tử quy – Bài 1: Phép người con

Đệ tử quy – Bài 1: Phép người con

Nguyên văn:

弟子(1)規(2), 聖人(3)訓(4): 首(5)孝弟(6), 次(7)謹信(8);
泛愛眾(9), 而(10)親仁(11); 有余力(12), 則(13)學文(14)。

Bính âm:

弟(dì) 子(zǐ) 規(guī), 聖(shèng) 人(rén) 訓(xùn):
首(shǒu) 孝(xiào) 弟(tì), 次(cì) 謹(jǐn) 信(xìn);
泛(fàn) 愛(ài) 眾(zhòng), 而(ér) 親(qīn) 仁(rén);
有(yǒu) 余(yú) 力(lì), 則(zé) 學(xué) 文(wén)。

Chú âm:

弟(ㄉㄧˋ) 子(ㄗˇ) 規(ㄍㄨㄟ), 聖(ㄕㄥˋ) 人(ㄖㄣˊ) 訓(ㄒㄩㄣˋ):
首(ㄕㄡˇ) 孝(ㄒㄧㄠˋ) 弟(ㄉㄧˋ), 次(ㄘˋ) 謹(ㄐㄧㄣˇ) 信(ㄒㄧㄣˋ);
泛(ㄈㄢˋ) 愛(ㄞˋ) 眾(ㄓㄨㄥˋ), 而(ㄦˊ) 親(ㄑㄧㄣ) 仁(ㄖㄣˊ);
有(ㄧㄡˇ) 余(ㄩˊ) 力(ㄌㄧˋ), 則(ㄗㄜˊ) 學(ㄒㄩㄝˊ) 文(ㄨㄣˊ)。

Âm Hán Việt:

Đệ tử quy, Thánh nhân huấn: Thủ hiếu đễ, thứ cẩn tín;
Phiếm ái chúng, nhi thân nhân; hữu dư lực, tắc học văn.

Lời dịch:

Phép người con, Thánh nhân dạy: Hiếu đễ trước, kế cẩn tín;
Yêu bình đẳng, gần người nhân; có dư sức, thì học văn.

Từ vựng:

(1) đệ tử (弟子): làm người em và làm người con.
(2) quy (規): quy phạm.
(3) Thánh nhân (圣人): người có phẩm đức cao siêu, cổ thánh tiên hiền có nhân cách hoàn mỹ.
(4) huấn (训): giáo huấn, dạy bảo, khuyên răn, chuẩn mực, phép tắc.
(5) thủ (首): đứng đầu, quan trọng nhất.
(6) hiếu đễ (孝弟): hiếu thuận với cha mẹ, tôn kính anh chị. 弟 cũng giống như 悌, đồng âm “đễ”, nghĩa là kính trọng và thuận theo anh chị, một âm khác là “đệ”.
(7) thứ (次): quan trọng thứ nhì.
(8) cẩn tín (谨信): chú ý cẩn thận, thành thật giữ tín, giữ lòng tin, sự tín nhiệm.
(9) phiếm ái chúng (泛愛眾): bác ái với mọi người. “Phiếm” có nghĩa là rộng khắp.
(10) nhi (而): mà lại, hơn nữa.
(11) thân nhân (親仁): thân cận người có tâm nhân ái. “Nhân” 仁 ,: tâm nhân từ khoan dung rộng lượng, đạo đức cơ bản của người yêu người yêu vật.
(12) dư lực (余力): tâm lực còn dư.
(13) tắc (則): liền.
(14) học văn (學文): nghiên cứu học vấn. Khổng tử nói: “Hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn” (Thực hành mà còn dư sức thì học tri thức). Chủ trương chú trọng đức dục hơn trí dục (giáo dục đạo đức hơn giáo dục kiến thức), trước tiên phải dưỡng thành phẩm đức tốt đẹp, còn có thời gian thì mới học các cái khác, các loại tri thức (học vấn, học thức).

Lời giải thích:

“Đệ Tử Quy” là quy phạm đạo đức được các bậc cổ thánh tiên hiền truyền dạy. Trong đó quan trọng nhất chính là hiếu thuận đối với cha mẹ, đối với anh chị; tiếp đó là làm người khi làm việc phải nghiêm cẩn giữ thành tín. Yêu quý mọi người trên thế giới, đồng thời thân cận với nhiều bậc quân tử nhân đức. Còn có dư thời gian và tinh lực, mới có thể học tập các loại văn học, các loại kiến thức khác.

Câu chuyện tham khảo: Đạo đức của Thủy tổ ─ Đế Thuấn

Thuấn là một trong Ngũ Đế (*) của thời cổ đại Trung Quốc, ông họ Diêu, tên là Trọng Hoa, hào là Ngu Thị, lịch sử gọi là Ngu Thuấn.

Tranh vẽ Đế Thuấn (ảnh Wikipedia).

Khi Thuấn còn rất nhỏ mẹ đã qua đời, cha mù hai mắt là Cổ Tẩu lại cưới vợ kế, sinh ra em trai tên là Tượng. Thuấn có cha là người ngoan cố không nói lý, lại thêm mẹ kế tính tình thô bạo hung ác, em trai ngang ngược vô lý, mẹ kế và Tượng vì được Cổ Tẩu sủng ái, ba người đều chán ghét vợ trước đã sinh ra Thuấn, thường xuyên muốn giết chết ông.

Có một lần Cổ Tẩu gọi Thuấn sửa chữa kho gạo, chờ Thuấn leo lên trên đỉnh kho, Cổ Tẩu liền phóng hỏa đốt kho gạo, Thuấn cầm hai cái mũ rộng vành giống như chim đáp xuống, không bị hại chết. Sau đó Cổ Tẩu lại gọi Thuấn đi đào giếng, lúc Thuấn đang đi sâu vào trong giếng, Cổ Tẩu cùng hợp lực với Tượng dùng đất lấp giếng, không nghĩ tới Thuấn rất thông minh, lúc đào giếng đã dự đoán nên đào một thông đạo bên hông trốn thoát. Tượng vốn cho rằng lần này không có sơ sót nào, liền chiếm đoạt gia sản của Thuấn, nhưng nhìn thấy Thuấn về nhà, mọi người giật mình kinh hãi. Nhưng Thuấn khoan dung độ lượng vẫn lấy đức báo oán, hôm sau vẫn hiếu kính cha mẹ, yêu quý em trai như cũ.

Cổ nhân nói: “Trăm thiện hiếu làm đầu.” Năm Thuấn 20 tuổi, hiếu thảo nổi danh thiên hạ, năm 30 tuổi thì Nghiêu Đế tìm kiếm hiền tài, quần thần tứ phương đều đề cử Thuấn, bởi vậy Nghiêu Đế đem 2 con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh gả cho Thuấn, cũng để 9 người con trai cùng Thuấn ở chung, để quan sát phẩm đức của Thuấn. Bởi vì Thuấn lấy đức phục nhân, Nga Hoàng, Nữ Anh nhận được đức hạnh của Thuấn cảm hóa, cũng không dám vì thân phận tôn quý mà có thái độ kiêu căng, đối xử mọi người đều rất khiêm tốn cung kính. 9 người con trai của Nghiêu Đế chịu ảnh hưởng của Thuấn, cũng ngày càng thêm nhân hậu cẩn thận. Thuấn đến Lịch Sơn trồng trọt, người ở đó nhận được ảnh hưởng của Thuấn, trở nên lòng dạ rộng lớn, nhượng ruộng tốt cho người khác.

Thuấn đến Lôi Trạch bắt cá, người Lôi Trạch tranh nhau nhượng chỗ. Thuấn đến bên Hoàng Hà làm đồ gốm, sản xuất đồ gốm ở đó trở nên vô cùng tinh tế. Tất cả mọi người thích ở cùng với Thuấn, cho nên ông ở nơi nào, một năm sau liền tụ thành thôn xóm, hai năm thì thành thị trấn, ba năm liền thành đại đô thị. Trải qua khảo sát, Đế Nghiêu rất hài lòng đối với Thuấn, đem ngôi vua truyền cho Thuấn.

Đế Thuấn đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức, ông tuyên dương giáo dục Ngũ thường: Phụ nghĩa, Mẫu từ, Huynh hữu, Đệ cung, Tử hiếu. Thúc đẩy đạo đức nhân luân, khai sáng ra tiền lệ đạo đức truyền thống của dân tộc Trung Hoa, trở thành khuôn mẫu cho người Trung Quốc các triều đại noi theo.

Mấy ngàn năm nay, truyền thống văn hóa của vua Thuấn lấy đức làm đầu, thông qua văn hóa Nho gia của Khổng Tử truyền thừa xuống, đã giáo hóa nhiều đời người Trung Quốc.

(*) Chú thích:
Tam Hoàng Ngũ Đế: Thời viễn cổ, Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế gọi là Tam Hoàng, là ba vị Hoàng đế sớm nhất của Trung Quốc. Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, gọi là Ngũ Đế. Tài liệu lịch sử cổ ghi chép, Hoàng Đế là một vị trong Tam Hoàng, cũng là vị đứng đầu Ngũ Đế.
Link tiếng Trung.

Link dịch tiếng Việt bên Chánh Kiến.

Đôi lời nhìn nhận:

Chúng tôi rất tôn trọng bản dịch của bên Chánh Kiến, nhưng về một số điểm thì có nhìn nhận hơi khác một chút, xin phép được chia sẻ. Về phần Lời dịch, chúng tôi thấy như thế này thì vần điệu và sát nghĩa hơn:

Phép người con, Thánh nhân dạy
Hiếu đễ trước, rồi cẩn tín
Yêu rộng khắp, gần người nhân
Có dư sức, thì học văn.

Bởi vì chúng tôi thấy có 3 điểm như sau:

  • Thứ nhất, chúng tôi dùng “rồi cẩn tín” sẽ vần điệu hơn (vì có một thanh bằng là chữ “rồi”, còn bản trên có những 3 thanh trắc), nhưng vẫn đảm bảo giữ nguyên nghĩa.
  • Thứ hai, chúng tôi dùng “Yêu rộng khắp” (thay cho Yêu bình đẳng), bởi vì chữ “Phiếm” (泛) trong “Phiếm ái” có nghĩa là ‘rộng khắp’, chứ không phải ‘bình đẳng’.
  • Thứ ba, về Tam Hoàng, chúng tôi tra trong cuốn ‘Bổ Sử ký‘ của Tư Mã Trinh thời Đường là: Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa (chứ không phải Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế).

Đây chỉ là những nhìn nhận có chút khác biệt với bản bên Chánh Kiến tiếng Việt, rất mong nhận được đóng góp quý báu từ quý bạn.

Có thể bạn quan tâm:

Chu Thuần

Chu Thuần

Chu Thuần là người yêu văn hoá và thích suy nghĩ, Chu Thuần muốn truyền tải những giá trị truyền thống và góc nhìn của những chuyên gia đến quý độc giả.

Leave a Reply

Your email address will not be published.