Ngoài ‘nghỉ ngơi’, Tết Nguyên Đán còn có ý nghĩa gì?

Ngoài ‘nghỉ ngơi’, Tết Nguyên Đán còn có ý nghĩa gì?

Trong bài viết ‘Ngày bắt đầu kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán truyền thống: Tràn đầy tín ngưỡng Thần Phật‘, chúng tôi có chia sẻ rằng, kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán truyền thống bắt đầu từ ngày mùng 8 tháng Chạp (Lễ Lạp Bát) – gộp từ tục tế tự 8 vị Thần trông coi nông nghiệp và ngày Phật thành đạo.

Liên quan đến ngày Lạp Bát, có một câu chuyện về thầy trò Khổng Tử như thế này. Trong ‘Lễ ký’ chép rằng, học trò Tử Cống cùng thầy Khổng Tử đi xem Lạp Tế, Khổng Tử hỏi: “Tứ (Tử Cống) thấy vui không?”. Tử Cống trả lời: “Người của nước đó chè chén say sưa, trò không biết có vui hay không”. Khổng Tử mới nói rằng: “Bách tính vất vả một năm chỉ vui vẻ có một ngày. Đạo lý trong đó trò chưa thể hội được”. Ở đây, điều Tử Cống thấy năm xưa vào thời Xuân Thu cách đây 2500 năm, cũng giống như chúng ta thấy thời nay, đó là mọi người cũng vui vẻ, chè chén, giải trí trong dịp Tết Nguyên Đán.

Đúng như lời Khổng Tử nói “bách tính vất vả một năm”, nên đến kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán họ nghỉ ngơi vui vẻ là điều hợp lý, nhưng ngoài đó ra, ngày Tết còn có ý nghĩa gì?

Văn hoá truyền thống: trước tế cho Trời, sau mới cúng cho người

Người Á Đông từ xưa đã có văn hoá tín Trời kính Thần. Vì tin Thần linh tồn tại nên trong văn hoá truyền thống, nên người Á Đông có một phong tục rất quan trọng đó là tế tự (cúng tế), họ tin rằng các vị Thần sẽ ban phúc để gia tộc thịnh vượng, con cháu hạnh phúc.

Trong bài viết trước về bánh chưng – bánh giầy (một trong những vật phẩm của Tết Nguyên Đán), chúng tôi có đề cập rằng, bánh chưng – bánh giầy dùng để tế Trời Đất trước, sau mới tế tổ tiên. Thêm vào đó, vào tháng Chạp, mọi người bận bịu đưa ông Táo, quét dọn nhà cửa, cúng bái tổ tiên v.v. nhưng tế tự vẫn luôn là nội dung quan trọng bậc nhất trong Tết Nguyên Đán.

Thông qua tế tự có thể kính ngưỡng Thiên Địa, Thần linh; biểu đạt lòng cảm ân đối với các bậc tiền nhân. Điều này vừa thể hiện “người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo Tự nhiên” (1), đồng thời còn cho phép mọi người nhớ rõ lịch sử, tăng thêm sự gắn kết trong gia tộc, tổ tiên, dòng họ; giúp truyền đạt cho con cháu đời sau đời đức hiếu đễ và hiếu hạnh.

Trong ‘Lễ ký’ có chép về việc tế tự như sau: “Thiên tử tế Trời Đất, tế bốn phương, tế núi sông, tế ‘ngũ tự’. Chư hầu tế Thần Đất, tế núi sông, tế ‘ngũ tự’. Đại phu tế ‘ngũ tự’. Sĩ chỉ tế tổ tiên”. Còn người dân bình thường thì tế tự tổ tiên và ‘ngũ tự’.

Thiên tử, Chư hầu, Đại phu và Sĩ là 4 giai tầng quý tộc có từ thời nhà Chu, và giữa họ với nhau có quan hệ họ hàng. ‘Ngũ tự’ ở đây gồm Thần hộ (cánh cửa), Thần bếp, Thần lưu (trung tâm nhà ở), Thần cửa và Thần hành (đường đi).

Đối với việc tế tự thì mỗi người có vai trò khác nhau. Thiên tử mang trách nhiệm cao nhất là tế Trời Đất, sau đó mới tế những Thần nhỏ hơn. Phạm vi tế tự từ Thiên tử đến Chư hầu, Đại phu và Sĩ thì nhỏ dần, đến Sĩ thì chỉ tế tổ tiên bởi vì trách nhiệm của họ nhỏ hơn 3 giai tầng còn lại. Tới người dân thì tế tổ tiên và ‘ngũ tự’. Do đó thấy rằng, việc tế tự có mức độ ưu tiên khác nhau, cao nhất vẫn là tế Trời Đất, sau đó mới cúng thờ tổ tiên.

Trên thực tế, lễ nghi sớm nhất mà nhân loại học được đó là lễ nghi tế tự, thể hiện lòng sùng kính đối với Thiên Địa Thần linh.

Chữ Lễ (禮) thể hiện nghi lễ tế tự

Phục Hy – một trong Tam Hoàng (2) sau khi làm vua, vào tháng Dần (tức tháng Giêng), đã đến núi Thái Sơn để cử hành lễ tế Trời Đất. Do đó điều mà nhân loại học đầu tiên chính là chữ Lễ (禮).

Chữ Lễ (禮) gồm Bộ Thị (礻, 示) là cái bàn đá tế Thần, bên phải là chữ Lễ (豊). Mà chữ Lễ (豊) lại được ghép từ chữ Khúc (曲: ca khúc) và chữ Đậu (豆: bát đựng đồ thờ).

Chữ Thị (礻, 示) trong cuốn ‘Tìm về cội nguồn chữ Hán’ của Lý Lạc Nghị, có hình dạng là bàn đá để tế Thần.
Chữ Đậu (豆) trong cuốn ‘Tìm về cội nguồn chữ Hán’ của Lý Lạc Nghị, có hình dạng là một loại đồ vật đựng thức ăn, thường dùng trong tế lễ.

Do đó nhìn vào toàn bộ chữ Lễ (禮) có thể thấy rằng, chữ này thể hiện hoạt động tế lễ Thần linh, đặt đồ tế lễ (chữ Đậu 豆) lên bàn đá (chữ Thị 礻/示), xung quanh còn có ca hát (chữ Khúc 曲).

Sau khi Thần Phục Hy dạy nhân loại chữ Lễ, thì từ đó trở đi, Thiên tử đều phải lên núi Thái Sơn làm lễ tế Trời Đất. Các vương triều ở nước Việt ta cũng vậy, vua đều phải cử hành nghi lễ tế Trời Đất vào tháng Giêng. 

Ví như di tích Đàn Nam Giao, với bên khuôn viên bên ngoài hình vuông tượng trưng cho Đất, bên trong là đàn tròn tượng trưng cho Trời, đây là nơi cử hành tế tự Thiên Địa thời Nguyễn. Còn ở phương bắc có Thiên Đàn (đàn tế Trời) ở Bắc Kinh cũng với chức năng tương tự.

Đàn Nam giao ở Huế và Thiên Đàn ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Ảnh ghép từ nhiều nguồn.

Mọi người thấy rằng các công trình để phục vụ cho việc tế tự Trời Đất rất quy mô và Thần thánh. Thêm vào đó, thời cổ đại, người ta cho rằng quốc gia đại sự có 2 việc lớn nhất là tế tự và chiến tranh. Do đó thấy rằng, việc tế tự Thiên Địa là một việc vô cùng quan trọng trong văn hoá truyền thống.

Tinh thần tế tự Tết Nguyên Đán: kính ngưỡng Trời Đất và tổ tiên 

Qua một năm làm việc vất vả, dành thời gian trong Tết Nguyên Đán để nghỉ ngơi vui vẻ là điều hoàn toàn chính đáng, nhưng ở một tầng nghĩa cao hơn nào đó, thì tinh thần tế tự mới thực sự mang nội hàm của Tết Nguyên Đán truyền thống.

Như đã nói ở trên, thì việc tế tự cao nhất là tế Trời Đất Thần linh, do người đứng đầu quốc gia là Thiên tử cử hành; sau đó tế Thần nhỏ hơn rồi mới cúng tổ tiên.

Tế Trời Đất Thần linh, một là để cảm ân những vị ấy đã bảo hộ, dẫn dắt, làm mưa thuận gió hoà để con người có được mùa màng bội thu, hoặc việc kinh doanh được hanh thông thuận lợi. Đồng thời cũng thể hiện tín ngưỡng của con người đối với Thần.

Vì con người tin ‘trên đầu ba thước có Thần linh’, ‘nhân gian thì thầm, trời nghe như sấm; phòng tối tâm đen, thần nhãn như điện’… nên sẽ không dám làm điều xấu, bởi mọi hành vi của mình đều bị Thần nhìn thấy, từ đó con người mới ước thúc hành vi, chuyên làm việc thiện, tránh làm việc ác.

Còn tế tự tổ tiên là để tưởng nhớ công ơn của những bậc tiền nhân, bởi vì có tổ tiên mới có ông bà cha mẹ, có cha mẹ mới có ta, do đó phải nhớ ơn tổ tiên. Đây là đạo lý ‘uống nước nhớ nguồn’, ‘ăn quả nhớ người trồng cây’ của dân tộc.

Thêm nữa, việc tế tự tổ tiên còn có một ý nghĩa sâu xa mà chúng tôi cũng muốn chia sẻ. Người Việt ta ít nhiều cũng đã từng nghe câu này: “Cây xanh thì lá cũng xanh, cha mẹ hiền lành để đức cho con”. Một người may mắn có phúc (phước), thì ngoài phúc mang theo từ đời trước ra, còn có phúc của ông bà tổ tiên để lại, đây gọi là ‘âm đức’. Do đó việc tế tự tổ tiên, ngoài việc thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ trước, còn là lời tự nhắc nhở chính mình là hãy tin vào nhân quả, sống có đạo đức để thế hệ sau còn có ‘âm đức’ mà đắc được phúc báo…

Tựu trung lại, việc tế tự thể hiện tín ngưỡng, lòng biết ơn của con người đối với Trời Đất và tổ tiên, khiến con người có tiêu chuẩn ước thúc, tránh làm việc xấu, thường làm việc tốt; từ có được nền tảng đạo đức nhất định, tạo cơ sở cho cuộc sống bình an và hạnh phúc. Đây là ý nghĩa thật sự của ngày Tết Nguyên Đán.

Chu Thuần

Chú thích:

(1) Trích trong ‘Đạo đức kinh’ của Lão Tử.

(2) Theo ‘Bổ Sử ký’ của Tư Mã Trịnh thời Đường, Tam Hoàng gồm Phục Hy, Thần Nông (tổ của Bách Việt) và Nữ Oa.

Chu Thuần

Chu Thuần

Chu Thuần là người yêu văn hoá và thích suy nghĩ, Chu Thuần muốn truyền tải những giá trị truyền thống và góc nhìn của những chuyên gia đến quý độc giả.

Leave a Reply

Your email address will not be published.