Ngày bắt đầu kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán truyền thống: Tràn đầy tín ngưỡng Thần Phật

Ngày bắt đầu kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán truyền thống: Tràn đầy tín ngưỡng Thần Phật

Sau một năm làm việc vất vả, đến Tết Nguyên Đán chúng ta lại được nghỉ ngơi, đoàn viên cùng với gia đình, đồng thời cũng tham gia các hoạt động truyền thống như: cúng ông Táo, dọn dẹp nhà cửa, đón giao thừa, chúc Tết, lì xì cho nhau v.v. 

Nhưng có khi nào chúng ta thắc mắc rằng: Tết Nguyên Đán là gì, có từ khi nào, kỳ nghỉ Tết trong truyền thống bắt đầu từ ngày mấy?

Bài viết dưới đây sẽ là tham khảo hữu ích cho quý bạn.

Tết Nguyên Đán là gì?

Chữ Tết là người cách người Việt đọc trại âm từ chữ Tiết (節) có nghĩa là lễ hội hoặc kỳ nghỉ (festival, holiday).

Nguyên (元) có nghĩa là bắt đầu, khởi điểm. Còn Đán (旦) chỉ bình minh, tức bắt đầu một ngày. Trong cuốn Tìm về cội nguồn chữ Hán của Lý Lạc Nghị, thì chữ Đán mô tả mặt Trời ở trên đường chân trời, tức là chỉ ngày mới. Do đó Nguyên Đán (元旦) nghĩa là ngày đầu của năm mới, còn Tết Nguyên Đán là lễ hội/kỳ nghỉ đầu năm mới.

Chữ Đán (旦) trong cuốn Tìm về cội nguồn chữ Hán của Lý Lạc Nghị, mô tả hình tượng Mặt Trời xuất hiện.

Hai chữ Nguyên Đán xuất hiện sớm nhất trong ‘Tấn thư’: “Chuyên Đế (Chuyên Húc) lấy tháng Giêng là đầu tiên, thực tế chính là ngày đầu xuân Nguyên Đán”.

Chuyên Húc là một trong Ngũ Đế gồm: Hiên Viên Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu, Thuấn. Mà Chuyên Húc trị vì từ năm 2513 – 2435 TCN, do đó Tết Nguyên Đán có lịch sử ít nhất 4500 năm.

Đọc đến đây, có thể một số người sẽ thắc mắc ‘Ấy khoan. Những gì bạn nói chẳng phải đều là lịch sử Trung Hoa’. Nhân đây tôi cũng chia sẻ một chút tài liệu mà tôi tìm được.

Tộc Việt là con cháu của Thần Nông – một trong Tam Hoàng, cũng là một phần của văn hoá lớn Trung Hoa

Thứ nhất, trong Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư (thuộc Đại Việt sử ký toàn thư), Sử thần (quan sử) Ngô Sĩ Liên có một đoạn lời bạch rằng: “Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, cho Giao Chỉ ở về phía Tây Nam, ở xa ngoài đất Bách Việt, Vua Nghiêu sai Hy thị đến Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương nam. Vua Vũ chia 9 châu thì đất Bách Việt thuộc về khu Dương Châu, Giao Chỉ thuộc về thời đấy. Thời Thành Thang – Chu Vũ mới gọi là Việt Thường thị, tên Việt bắt đầu từ đây”.

Chúng ta học lịch sử cấp 2 chắc chắn đã từng nghe qua cái tên Giao Chỉ trong 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Giao Chỉ chính là vùng đất của người Việt, nó có từ thời Hiên Viên Hoàng Đế như đã nói ở trên, và khi Đại Vũ trị thuỷ chia Cửu Châu (9 châu) thì đất Giao Chỉ của người Việt thuộc Dương Châu.

Thứ hai, trong ‘Đại Việt sử ký toàn thư – Kỷ Hồng Bàng thị’ viết rằng: Vua (Lạc Long Quân) lấy Âu Cơ (con gái Đế Lai), sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh ra trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả khắc nhau, khó lòng đoàn tụ. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền nam (có bản chép về Nam Hải). Phong con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi vua. 

Lạc Long Quân là con trai của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương lại là con cháu của Thần Nông (Thần Nông thị). 

Ảnh chụp từ ‘Đại Việt sử ký toàn thư’ đoạn thông tin: Kinh Dương Vương là “con cháu của Thần Nông”.

Theo ‘Bổ Sử ký – Tam Hoàng bản kỷ’ của Tư Mã Trinh triều Đường, thì Tam Hoàng gồm: Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa. Do đó, nếu theo ‘Đại Việt sử ký toàn thư’ và ‘Bổ Sử ký – Tam Hoàng bản kỷ’ thì tộc Bách Việt (trong đó có Việt Nam) là con cháu của Thần Nông thuộc Tam Hoàng.

Thứ ba, cũng trong ‘Đại Việt sử ký toàn thư – Kỷ Hồng Bàng thị’, khi nói về Hùng Vương có chép rằng: “Hùng Vương là con trai của Lạc Long Quân, đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc, tỉnh Phú Thọ).

Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu nước là Văn Lang. Nước ấy phía đông giáp Nam Hải, phía tây giáp Ba Thục, phía bắc đến hồ Động Đình, phía Nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam”.

Tới đây mọi người thấy rằng, diện tích nước Văn Lang thời đó rất rộng lớn, nói cho dễ hiểu là phía nam giáp Quảng Nam, còn phía bắc giáp hồ Động Đình, tức khu vực phía nam sông Dương Tử. Nếu nhìn vào bản đồ thì diện tích nước Văn Lang khi đó ít nhất là gấp đôi, thậm chí gấp ba nước Việt Nam bây giờ.

Ảnh chụp từ ‘Đại Việt sử ký toàn thư’ và phần diện tích tương đối của nước Văn Lang. Ảnh ghép từ nhiều nguồn.

Thêm vào đó, trong ‘Trung Hoa văn minh sử’ tập 1, giảng viên Khoa Khoa học và Nhân văn của Đại học Phi Thiên – Giáo sư Chương Thiên Lượng đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: “Chúng ta biết rằng triều đại đầu tiên nhất của Trung Quốc là triều Hạ (thời vua Vũ), khi ấy văn hóa Trung Quốc phân thành 3 địa khu lớn.

Khu vực đầu tiên chính là vùng Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay. Đây thuộc về địa khu Trung Nguyên, thuộc về văn hoá Hoa – Hạ. 

Tiếp theo, mặt phía đông thời ấy là vùng Sơn Đông, địa phương này là một dân tộc khác, có thể gọi là Di. Họ thuộc về vòng tròn văn hoá khác.

Sau đó ở phía nam, tức vùng Hồ Bắc, Hồ Nam là thuộc về văn hóa Sở”.

Khu Hồ Bắc, Hồ Nam của Trung Quốc thuộc về văn hoá Sở, mà hồ Động Đình lại thuộc tỉnh Hồ Nam, do đó nhìn vào cương vực của nước Văn Lang xưa thấy rằng, nước Văn Lang thuộc về vòng tròn văn hoá Sở.

Tôi dẫn ra những tư liệu lịch sử trên chỉ để nói rằng, tộc Bách Việt (trong đó có Việt Nam) là một phần quan trọng của văn hoá Trung Hoa, do đó rất nhiều tập tục của người Việt và người Hoa khá giống nhau, và trong số đó có tập tục đón Tết Nguyên Đán.

Ngày bắt đầu kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán truyền thống: tràn đầy tín ngưỡng Thần Phật

Theo truyền thống, mọi người sẽ chuẩn bị cho năm mới bắt đầu từ Lễ Lạp Bát (臘八節: Lạp Bát Tiết).

Lạp (臘) là tháng Mười hai, người Việt đọc trại âm là Chạp, do đó tháng Chạp cũng gọi là tháng Mười hai. Còn Bát (八) là ngày thứ 8. Cho nên Lạp Bát có nghĩa là ngày 8 tháng Mười hai

Vì sao ngày 8 tháng Chạp (Lạp Bát) được gọi là lễ, thậm chí bắt đầu cho mùa Tết Nguyên Đán? Ở đây có 2 cách giải thích.

Cách giải thích thứ nhất, ngày 8 tháng Chạp là ngày Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo.

Trong ‘Thích Ca Phổ’ (ghi chép về Thích Ca Mâu Ni) có viết rằng: “Thích Ca Mâu Ni lúc ấy là một vương tử ở Ấn Độ, ngộ ra được sự vô thường của sinh mệnh nên đã từ bỏ vinh hoa phú quý và vương vị để xuất gia chịu khổ tu hành. 

Trong thời gian 6 năm tu luyện khổ hạnh, mỗi ngày ông chỉ ăn một chút mè và một chút lúa mì, thậm chí có khi cả tuần mới ăn. Thân thể của ông trở nên gầy gò như củi khô, nhưng cũng chưa ngộ được chân nghĩa của tu hành.

Lúc ấy có một cô gái chăn dê nhận được điểm hóa đến cúng dường cho vị vương tử khổ tu trong rừng. Khi dâng lên cháo được nấu bằng ngũ cốc và sữa, Ngài dùng xong thì phục hồi thể lực, cuối cùng đã khai công khai ngộ dưới cội bồ đề thành Phật”

Ngày Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo là ngày thứ tám của tháng Mười hai theo lịch truyền thống (Hoàng lịch, cũng gọi là Âm lịch). Do đó ngày 8 tháng Mười hai được gọi là Lễ Lạp Bát, cũng được gọi là ‘Lễ Thành đạo’ (Thành đạo tiết – 成道節).

Vào ngày này, tăng lữ cùng với Phật tử sẽ dùng ngũ cốc để nấu cháo cúng Phật, chúc mừng ngày Phật thành đạo. Cháo này gọi là cháo Lạp Bát (Lạp Bát chúc – 臘八粥).

Về cách giải thích thứ hai, trong ‘Lễ ký’ chép rằng: “Thiên tử cử hành Đại Lạp Bát, Y Kỳ bắt đầu lấy tháng Chạp (tháng Lạp) làm lễ tế tự”.

Vế thứ nhất có nghĩa là, Thiên tử cử hành đại lễ tế tự 8 vị Thần quản lý nông nghiệp vào tháng Chạp (tháng Lạp, cuối năm), để cảm tạ các vị Thần đã bảo hộ trong năm cũ, đồng thời cầu mong năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu.

Trong vế thứ hai, Y Kỳ là Thiên tử thời cổ đại, có người nói là Thần Nông (ông tổ tộc Bách Việt), có người có là Đế Nghiêu, nhưng tựu trung lại, Y Kỳ bắt đầu lấy tháng Chạp làm lễ tế tự.

Từ đó, vào tháng Chạp âm lịch cử hành lễ tế tự ‘Lạp Tế’, còn ngày tổ chức Lạp Tế gọi là ‘Lạp Nhật’.

Ngày tế tự qua từng thời đại có khác nhau, nhưng có điểm chung là đều vô cùng long trọng. Trong sách ‘Độc đoạn’ của Thái Ung viết rằng: “Lạp (tháng Chạp) là đại tế cuối năm, từ quan lại đến thứ dân đều yến ẩm (yến tiệc)”. Từ ghi chép trên thấy rằng, tháng Chạp là thời điểm nghỉ ngơi đối với mọi người.

Ban đầu, ‘ngày tổ chức tế tự cuối năm’ (Lạp Nhật) và ‘ngày Phật thành đạo mùng 8 tháng Chạp’ không giống nhau, nhưng đều có điểm chung là bách tính thể hiện cái tâm chân thành kính ngưỡng Thần Phật.

Sau này khi Phật giáo truyền vào Trung Hoa, người ta nhập ngày tế lễ cuối năm (Lạp Tế) cùng với ngày Phật thành đạo, gọi chung là Lễ Lạp Bát, cũng là ngày bắt đầu mùa Tết Nguyên Đán.

Dù là tế tự vào ngày Lạp Nhật để tạ ơn Thần minh ban phúc, hay là tăng ni nấu cháo Lạp Bát để tưởng nhớ Phật thành đạo, thì hết thảy đều phản ánh cái tâm kính uý (kính sợ) đối với Thiên Địa, Thần Phật của con người. Mà cái tâm kính uý này khiến con người ta dùng tiêu chuẩn đạo đức cao hơn để ước thúc bản thân, tin rằng ‘trên đầu ba thước có Thần linh’, ‘người đang làm, Thần đang nhìn’, ‘thiện ác hữu báo’ v.v. nên sẽ không dám làm điều xấu. Đây mới là nội hàm thật sự của ngày bắt đầu mùa nghỉ Tết Nguyên Đán.

Tết Nguyên Đán truyền thống bắt đầu vào ngày mùng 8 tháng Chạp, kết thúc vào ngày 15 giáng Giêng tức Tết Nguyên Tiêu. Vậy Tết Nguyên Tiêu có nguồn gốc và ý nghĩa như thế nào, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Chu Thuần

Chu Thuần

Chu Thuần

Chu Thuần là người yêu văn hoá và thích suy nghĩ, Chu Thuần muốn truyền tải những giá trị truyền thống và góc nhìn của những chuyên gia đến quý độc giả.

Leave a Reply

Your email address will not be published.